Danh mục

Cơ quan y tế

  • BCH Đảng bộ 2015-2020
  • Cấp cứu, phẫu thuật thành công nhiều ca chấn thương nặng
  • Xử trí nhanh, cứu sống bệnh nhân tổn thương tim nặng
  • Phau thuat ket hop gay xuong phuc tap
  • Tán sỏi nội soi ngược dòng
  • http://benhvientuyenquang.org.vn/khoa-mat/
Hỏi đáp
Lên phía trên
Tiếng kêu của khớp có nguy hiểm?
Câu hỏi:
Tôi 45 tuổi. Gần đây, mỗi lần lên xuống cầu thang tôi thấy đầu gối bị đau nhẹ và khi cử động thì nghe tiếng kêu lụp cụp. Tôi bị bệnh gì? Bệnh có dễ điều trị không? - Lê Thị Tuyết (Q.7, TPHCM)
Trả lời:
BS Đỗ Tiến Dũng, Trưởng khoa Y học thể thao, Bệnh viện Nhân dân 115 (TP.HCM), tư vấn:
 
Theo mô tả, nhiều khả năng khớp gối của chị đang bị thoái hóa. Để biết được mức độ thoái hóa cụ thể, cần phải khám lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng.
 
Các triệu chứng thường gặp của bệnh là: đau tại chỗ, đau tăng khi vận động, đau từng đợt; sưng khớp; vận động khó khăn; biến dạng chi như vẹo trong, vẹo ngoài khớp gối; gồ ghề quanh khớp hay vẹo cột sống thắt lưng…; nghe, cảm nhận tiếng lụp cụp khi bắt đầu vận động khớp…
 
Nếu chụp X-quang, sẽ thấy có gai xương ở rìa bờ xương, đặc xương dưới sụn, hẹp khe khớp, bờ xương không đều. Chụp cộng hưởng từ (MRI) cho thấy hình ảnh đầy đủ ba chiều, gồm các thành phần dây chằng, gân cơ, xương và sụn khớp bị tổn thương. Bệnh nhân sẽ được xét nghiệm công thức máu và dịch khớp. Ngoài ra, tùy trường hợp còn có thể siêu âm, nội soi.
 
Nguyên tắc điều trị bệnh là giảm đau cho người bệnh, đồng thời phục hồi chức năng vận động của khớp, sức mạnh của cơ. Không có thuốc đặc trị quá trình thoái hóa khớp, chỉ có thể điều trị triệu chứng và phục hồi sự vận động của khớp bằng tổng hợp các phương pháp nội khoa, vật lý trị liệu và ngoại khoa, tùy tình trạng bệnh cụ thể.
 
Điều trị nội khoa có thể dùng thuốc bôi ngoài da, thuốc uống, thuốc tiêm, thuốc tăng cường dịch khớp, tái tạo sụn. Phương pháp vật lý trị liệu gồm tập thể dục, vận động vùng cột sống cổ, cột sống thắt lưng, tập yoga, đạp xe tại chỗ, tập bơi trong nước khoáng nóng, tắm bùn… với nguyên tắc không làm tăng áp lực cho khớp đã và đang bị đau; xoa bóp, nắn gân xương, bấm huyệt, châm cứu…
 
Phương pháp ngoại khoa có thể là đục xương chỉnh trục; nội soi cắt lọc mô viêm, rửa khớp, lấy sạn khớp; cấy ghép sụn; cấy ghép tế bào gốc; nếu thoái hóa khớp độ III hoặc IV thì người bệnh được chỉ định thay khớp nhân tạo hoặc hàn cứng khớp.
 
Tại Việt Nam, tỷ lệ người mắc bệnh thoái hóa khớp chiếm khoảng 12%, trong đó, bệnh nhân dưới 40 tuổi khoảng 5%, từ 40-60 tuổi khoảng 30%, trên 60 tuổi khoảng 60-90%. Các vị trí thoái hóa khớp thường là: cột sống thắt lưng: 31,12%; cột sống cổ: 7%; khớp gối: 12,5%; khớp háng: 8%...

Lên phía trên
Trẻ thiếu kẽm sẽ có biểu hiện thế nào?
Câu hỏi:
Nghe nói kẽm là chất quan trọng giúp trẻ cao lớn, nếu ăn uống thiếu kẽm trẻ sẽ bị lùn hơn bạn cùng lứa tuổi và dễ mắc một số bệnh. Vậy nếu trẻ thiếu kẽm sẽ có biểu hiện thế nào? Cần ăn thực phẩm nào để đủ kẽm. – (Mai Thị Hoa, hoakun485@ymail.com)
Trả lời:
Chào bạn,

 

Kẽm là một chất khoáng rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể, nhất là sự phát triển chiều cao. Nếu thiếu kẽm, trẻ em sẽ bị lùn do xương không phát triển và thiểu năng sinh dục. Kẽm có tác động quan trọng lên hormon tăng trưởng (GH), hormon sinh dục testosterone… Kẽm tham gia bảo vệ cơ thể chống lại stress, nóng, lạnh, mệt mỏi…
 

Triệu chứng khi thiếu kẽm là: táo bón, có khi mấy ngày mới đi ngoài một lần, phân khô, đóng cục; chậm liền sẹo khi bị thương, rụng tóc; nhìn kém; dễ bị bệnh nhiễm khuẩn như mụn nhọt, viêm phế quản…; phát triển khối u; thai phụ thiếu kẽm sẽ chán ăn, buồn nôn, nôn, mất ngủ… Các loại thức ăn chứa nhiều kẽm: con hàu biển, thịt cá, ngũ cốc và rau khô, sữa mẹ… Các chất làm tăng hấp thu kẽm ở ruột là: lactose, acidamin, histidin, cystein.

Trái lại, các chất làm giảm hấp thu kẽm ở ruột gồm: đồng ở nồng độ cao, sắt, phytat, calci, photpho. Các bệnh: viêm dạ dày, ruột, xơ gan… làm giảm hấp thu kẽm. Ngoài ra, để tăng hấp thu kẽm hãy thường xuyên bổ sung vitamin C.

Lên phía trên
Có nên đưa trẻ xuất ngoại chữa tự kỷ?
Câu hỏi:
Cho đến nay, các nhà khoa học chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác gây chứng tự kỷ, mặc dù tự kỷ được định nghĩa như sự rối loạn chức năng thần kinh. Có nhiều yếu tố góp phần vào chứng tự kỷ, trong đó có yếu tố di truyền và môi trường sống. Nếu nguyên nhân chưa được biết rõ, thì tự kỷ có thể được chữa khỏi?
Trả lời:
Có nên đưa trẻ xuất ngoại chữa tự kỷ?

Một trẻ bị hội chứng tự kỷ ở trường Tổ Ấm Huynh Đệ – nơi nhận chăm sóc trẻ tự kỷ và trẻ khuyết tật ở Phan Thiết, Bình Thuận. Ảnh: Thanh Hảo
 
Theo chứng cớ khoa học, các phương pháp can thiệp nhằm cải thiện chất lượng sống của người mắc chứng tự kỷ, giúp người đó tự lập và giảm các khiếm khuyết xã hội, giao tiếp và hành vi. Tuy nhiên, hiện nay có một số tổ chức xem tự kỷ như một cách sống hơn là một chứng bệnh nên không cần tìm cách chữa lành, trong khi một số tổ chức khác đang nghiên cứu cách chữa lành chứng bệnh này. Tự kỷ có thể được trị liệu như thế nào?
 
Có hai hướng điều trị chính.
 
Can thiệp giáo dục có chứng cớ khoa học
 
Với các đặc tính sau: can thiệp sớm trước ba tuổi mà không chờ chẩn đoán chính xác; can thiệp tích cực, ít nhất 25 giờ/tuần, 12 tháng/năm; tỷ lệ học sinh/giáo viên thấp; sự tham gia của gia đình sau khi được đào tạo; tương tác với các trẻ bình thường; tổ chức phòng học để trẻ tập trung tốt; trẻ được đánh giá tuổi phát triển và có chương trình giáo dục cá nhân. Sự can thiệp này được tổ chức tại nhà, trường học, trung tâm nuôi dạy trẻ tự kỷ. Những người thực hiện chương trình có thể là cha mẹ, giáo viên, chuyên viên âm ngữ, chuyên viên hoạt động trị liệu. Hiện nay phương pháp hữu hiệu có chứng cớ khoa học là phương pháp can thiệp dựa trên hành vi tích cực sớm (Early Intensive Behavioral Intervention-EIBI), hệ thống giao tiếp trao đổi hình ảnh (Picture Exchange Communication System-PECS), điều trị và giáo dục trẻ tự kỷ và khiếm khuyết giao tiếp (Treatment and education of autistic and related communication handicapped children-TEACCH). Tuy nhiên, phụ huynh cần lưu ý không có phương pháp nào là tối ưu, nhưng kết quả can thiệp tuỳ thuộc nhiều yếu tố: tuổi của trẻ, mức độ phát triển, đặc tính của trẻ, thời gian can thiệp và năng lực của người can thiệp.
 
Các phương pháp trị liệu khác
 
Đây là những phương pháp chưa có chứng cớ khoa học, bao gồm:
 
Dùng thuốc: thuốc chống loạn thần và chống trầm cảm có chỉ định trong trường hợp trẻ hung hăng, tự gây tổn thương. Tuy nhiên, các loại thuốc này có nhiều tác dụng phụ và chưa có loại thuốc nào giảm các triệu chứng khiếm khuyết then chốt về xã hội và giao tiếp.
 
Kiêng ăn gluten và casein: có nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển xương của trẻ do thiếu canxi và vitamin D.
 
Khử chất kim loại nặng: rất nguy hiểm và đã gây tử vong cho một trẻ tự kỷ vào năm 2005.
 
Ôxy cao áp nhằm tăng cường lượng ôxy trong cơ thể để giảm các triệu chứng tự kỷ: chưa đủ chứng cớ khoa học để chứng minh hiệu quả, mặc dù năm 2009 có một công trình nghiên cứu nhỏ cho thấy có cải thiện hành vi sau 40 giờ điều trị.
 
Châm cứu để cải thiện giao tiếp cho trẻ: chưa có chứng cớ khoa học nào về hiệu quả.
 
Tóm lại, trị liệu rối loạn tự kỷ là một vấn đề phức tạp với nhiều khuynh hướng khác nhau. Phụ huynh cần thật bình tĩnh, thận trọng, tham khảo kỹ lưỡng trước khi quyết định chọn phương pháp điều trị phù hợp cho trẻ. Phương pháp phù hợp nhất là phương pháp không gây thêm đau khổ cho trẻ, dựa trên sở thích của trẻ và động viên trẻ hợp tác với phụ huynh và các chuyên viên để cải thiện đời sống tự lập của trẻ.
 
Theo BS Phạm Ngọc Thanh
Sài Gòn tiếp thị
Lên phía trên
Mộng tinh có phải là bệnh?
Câu hỏi:
Cháu trai tôi học lớp 10, thường bị chứng mộng tinh trong khi ngủ. Cháu có bị bệnh gì không? Tính cháu ít nói nên tôi sợ cháu ngại, trầm cảm. Lê Thị Quyên (Q.6, TP.HCM)
Trả lời:
BS Mai Bá Tiến Dũng, Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân TPHCM trả lời:
 
 Mộng tinh là hiện tượng sinh lý bình thường, hay xảy ra ở lứa tuổi dậy thì, một tháng bị mộng tinh từ một-hai lần là chuyện bình thường. Nguyên nhân gây ra mộng tinh là do trẻ ở tuổi này thường tự tìm hiểu về giới tính thông qua bạn bè, internet và ít được cha mẹ quan tâm. Trong quá trình tìm hiểu giới tính, những hình ảnh gợi dục thường tồn đọng trong tâm trí trẻ và khi ngủ sẽ “xả” ra.
 
Vì đây là hiện tượng bình thường của tâm sinh lý, trẻ không cần phải điều trị. Tuy nhiên, cha mẹ phải chia sẻ, gần gũi trẻ hơn, giải thích cặn kẽ về giới tính cho trẻ biết, tránh để trẻ cảm thấy tội lỗi, mặc cảm. Đồng thời, khuyến khích trẻ chơi thể thao, có cuộc sống lành mạnh, không suy nghĩ nhiều về những biểu hiện khác thường của cơ thể khi đang dậy thì.
 
Theo Phụ nữ TPHCM
Lên phía trên
Điều trị dứt điểm bệnh mạn tính vùng hầu họng
Câu hỏi:
Con tôi chỉ có triệu chứng ho kéo dài lâu ngày mà đi khám bác sĩ nói cháu bị bệnh thấp tim do nhiễm khuẩn đường hô hấp. Xin hỏi nguyên nhân gây bệnh thấp tim và cách phòng bệnh?
Trả lời:
 


Ảnh minh họa


- Bệnh thấp tim là bệnh viêm của mô liên kết, xảy ra sau viêm họng do liên cầu bê-ta huyết nhóm A, gây tổn thương ở nhiều cơ quan, chủ yếu là tim, khớp, hệ thần kinh, da và mô dưới da... Trong đó, tổn thương ở tim là nguy hiểm nhất. Bệnh có thể gây suy tim, phù phổi trong giai đoạn cấp, dẫn tới tử vong. Những trường hợp nặng sẽ để lại biến chứng hẹp, hở van tim. Bệnh xuất hiện sau khi trẻ bị nhiễm khuẩn liên cầu bê-ta huyết nhóm A ở vùng hầu họng trong khoảng thời gian từ 2 đến 4 tuần với những biểu hiện ban đầu là sốt cao, da xanh, mệt mỏi, niêm mạc thành sau họng và amidan xung huyết, nổi hạch góc hàm, tổn thương ở các khớp… Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp viêm họng hoặc nhiễm liên cầu (kể cả nhiễm liên cầu khuẩn bê-ta huyết nhóm A) đều dẫn đến bệnh thấp tim. Bệnh chỉ xảy ra ở những trẻ có cơ địa mẫn cảm với tác nhân gây bệnh. 

Điều trị bệnh phải dùng đúng, đủ liều các loại thuốc kháng sinh chống nhiễm khuẩn, chống viêm và những biến chứng (nếu có) theo chỉ định của bác sĩ. Cha mẹ tuyệt đối không tự mua các loại thuốc kháng sinh cho trẻ uống, vì nếu uống không đủ liều sẽ dẫn đến tình trạng nhờn thuốc. Khi thấy trẻ bị ho, sốt, đặc biệt viêm vùng hầu họng, phải đưa trẻ đến cơ sở y tế để được khám, xét nghiệm phát hiện tác nhân gây bệnh kịp thời. Do chưa có vắc xin nên để phòng bệnh thấp tim, hằng ngày trẻ phải vệ sinh răng miệng ít nhất hai lần, đồng thời điều trị dứt điểm các bệnh mạn tính vùng hầu họng.
Lên phía trên
Đau đầu do thời tiết - khắc phục thế nào?
Câu hỏi:
Tôi rất hay bị đau đầu mỗi khi thời tiết thay đổi, nhất là những hôm nhiệt độ ngày, đêm chênh lệch quá lớn… Nhưng chỉ sau đó vài tiếng là cơn đau lại giảm xuống, xin bác sĩ cho biết có cách khắc phục tình trạng này? - Hải Hà (Tam Điệp, Ninh Bình)
Trả lời:
Những người có cơ địa quá mẫn cảm với thời tiết rất hay bị đau nhức đầu mỗi khi thời tiết thay đổi, dù sự thay đổi này là rất nhỏ. Khi có sự thay đổi về thời tiết từ nóng sang lạnh và ngược lại; thay đổi hướng gió, gặp mưa… làm cho mạch máu não giãn ra là một nguyên nhân gây đau nhức đầu.

Các bệnh này thường chỉ điều trị được về triệu chứng, còn hầu như không thể điều trị dứt điểm, tuy nhiên, có những tác động làm giảm các nguy cơ giúp tình trạng bệnh không bị nặng lên.

Mỗi khi bị lên cơn đau nhức đầu, cần uống thuốc giảm đau để điều trị triệu chứng. Nhưng cần lưu ý, tuyệt đối không được lạm dụng thuốc giảm đau, chỉ nên uống thuốc khi cơn đau quá dữ dội.

Quan trọng nhất là phải làm thế nào để phòng cơn đau đầu. Những người thường xuyên bị đau đầu nên ăn nhiều rau xanh, rau quả có nhiều vitaminC, bồi bổ cơ thể bằng các loại thuốc như B1, B6, B12…

Tập các môn thể dục nhẹ nhàng, các bài tập dưỡng sinh học thở sâu… Khi đi ngoài trời nắng nóng cần đội mũ rộng vành, đeo kính mát; về mùa đông, nên mặc ấm và giữ ấm đầu mỗi khi ra khỏi nhà… là những cách đơn giản để phòng tránh bệnh này.

Lên phía trên
Thưa bác sĩ, em có nên cho bé uống vitamin D3 để bổ sung canxi đều đặn 6 tháng 1 lần cho đến khi bé được 5-6 tuổi không ạ? (Minh Hương)
Câu hỏi:
Thưa bác sĩ, em có nên cho bé uống vitamin D3 để bổ sung canxi đều đặn 6 tháng 1 lần cho đến khi bé được 5-6 tuổi không ạ? (Minh Hương)
Trả lời:

VitaminD-2-jpg[1482088941].jpg
Cần cân nhắc khi cho trẻ bổ sung vitamin. Ảnh minh họa: metro.us

Nhu cầu vitamin D ở trẻ 0-3 tuổi là 400 UI/ ngày, trẻ 4-6 tuổi là 50 UI/ ngày. Thông thường 80% vitamin D là từ ánh sáng mặt trời tổng hợp qua da, 20% là từ thức ăn.

Nước ta ở vùng nhiệt đới nên ánh sáng dồi dào và vì vậy trẻ khó có thể thiếu vitamin D. Những trường hợp đặc biệt sống nơi thiếu ánh sáng mặt trời có thể bổ sung vitamin D với liều như trên và chỉ sử dụng cho đến khi trẻ biết đi. Dạng vitamin D3 định kỳ 6 tháng uống 1 lần là dạng dự trữ trong gan có thể sử dụng được.

Thạc sĩ, Bác sĩ Tống Thanh Sơn
Bệnh viện Nhi đồng 2


Lên phía trên
Đau từ thắt lưng xuống chân là bệnh gì?
Câu hỏi:
Hơn một tháng nay em bị đau lưng từ vùng thắt lưng đến giữa lưng và hơi lệch sang bên phải. Đau chạy dọc xuống chân và lên tay gây tê gót chân phải, ngón chân và tay. Xin được hỏi đây là bệnh gì? (Thắng)
Trả lời:

 

Đau vùng thắt lưng, dù có hay không lan xuống chân đều bệnh lý có thể do nhiều nguyên nhân. Bệnh có thể phát sinh từ các cấu trúc tại cột sống như xương, đĩa đệm, khớp, dây chằng, thần kinh. Bên cạnh đó đây cũng có thể là biều hiện của một bệnh lý toàn thân như viêm đa khớp, viêm đa dây thần kinh.

Để chẩn đoán, bác sĩ cần phải khám kỹ lưỡng, tìm ra các nguyên nhân nghi ngờ và làm các xét nghiệm xác định. Thông thường bệnh nhân được chụp X-quang, xét nghiệm máu, chụp CT Scan, MRI, đo điện cơ đồ, độ loãng xương.

Một số trường hợp khó, nếu các xét nghiệm trên chưa xác định được chẩn đoán, cụ thể tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, các bác sĩ triển khai những thủ thuật phong bế thần kinh chẩn đoán, tiêm thuốc tê dưới sự hướng dẫn của X-quang vào các cấu trúc nghi ngờ là nguyên nhân gây đau để xác định bệnh.

Bác sĩ Dương Thanh Tùng
Bệnh viện Nhân dân Gia Định - TP HCM


Lên phía trên
Dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối
Câu hỏi:
Tôi có người thân bị ung thư đầu tụy di căn, sức khỏe suy yếu nhiều và thường xuyên cảm thấy chán ăn, mỗi khi cơn đau hành hạ thì hầu như không ăn uống gì. Bác sĩ bảo rằng không thể phẫu thuật và điều trị. Nay bệnh nhân bị suy kiệt nhiều. Nhờ bác sĩ tư vấn cho tôi cách thức săn sóc, phương pháp điều trị và chế độ dinh dưỡng hợp lý cho người thân của mình (Dương Hoa).
Trả lời:
Chào bạn,

Xin chân thành chia sẻ hoàn cảnh đau yếu của người nhà bạn. Cách tốt nhất hiện tại để cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân vào giai đoạn này là nguồn động viên từ gia đình và sự lạc quan trong cuộc sống của người bệnh.

Ngoài ra, một chế độ ăn uống hợp lý sẽ giúp tăng cường sức đề kháng, kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân. Cảm giác biếng ăn là triệu chứng thường gặp nhất ở bệnh nhân ung thư. Tâm lý sợ hãi, trầm cảm cũng làm cho bệnh nhân ăn mất ngon. Nôn, buồn nôn, thay đổi khẩu vị cũng có thể dẫn đến hiện tượng chán ăn.

Một chế độ ăn hợp lý là rất cần thiết cho các bệnh nhân ung thư.
Một chế độ ăn hợp lý là rất cần thiết cho các bệnh nhân ung thư. Ảnh minh họa: sciencebasednutritionpodcas

Dưới đây là một số cách xử trí bạn có thể tham khảo:

- Ăn chế độ ăn giàu năng lượng, giàu đạm (thịt, cá, trứng, sữa), chia làm nhiều bữa nhỏ trong ngày thay cho 3 bữa lớn như bình thường, bổ sung thêm năng lượng vào thực phẩm (cho thêm sữa, bơ, mật ong ...).

- Nếu bệnh nhân khó nuốt, chuyển sang các loại thức ăn dạng lỏng, nghiền, trộn, xay nhuyễn (canh, súp, cháo, nước ép...).

- Dự trữ sẵn các loại thức ăn hợp khẩu vị bệnh nhân nhằm tiện dụng mọi lúc mọi nơi (phô mai, bánh quy, nho khô...).

- Thức ăn nên được trình bày hấp dẫn, sạch sẽ và thường xuyên đổi món, đa dạng món chính, loại tráng miệng.

- Trong bữa ăn cố gắng tạo không khí vui vẻ, thư giãn.

- Vận động cơ thể, tập thể dục cũng góp phần làm tăng cảm giác ngon miệng.

Bạn có thể tham khảo thêm ý kiến của bác sĩ điều trị và bác sĩ đông y, để thêm vào khẩu phần ăn hàng ngày các đơn thuốc đông y. Cũng có chứng minh rằng một số phương thuốc đông y có tác dụng trong việc điều trị bệnh nhân ung thư, nhưng cần có chỉ định để bệnh nhân có thể sử dụng đúng liều lượng ở những thời điểm khác nhau.

Hy vọng những thông tin trên có thể giúp đỡ gia đình giảm được phần nào nỗi đau và sự khó khăn hiện tại. Chúc sức khỏe và hạnh phúc.

Bác sĩ CKII Nguyễn Ngọc Anh
Trưởng Trung tâm Ung bướu - Y học hạt nhân, BV Nhân dân 115

Lên phía trên
Ðặt vòng tránh thai vào thời điểm nào?
Câu hỏi:
Tôi vừa sinh con được 1 năm, do muốn kế hoạch hóa gia đình nên định đi đặt vòng tránh thai nhưng không biết nên đi vào thời điểm nào là tốt nhất, những trường hợp nào không được đặt vòng tránh thai? Xin quý báo tư vấn giúp.
Thu Hà(Tuyên Quang)
Trả lời:

Dụng cụ tử cung hay thường gọi vòng tránh thai là một trong những biện pháp tránh thai được sử dụng khá phổ biến. Hiệu quả tránh thai có thể đạt 99% nếu được đặt đúng chỗ và không bị xê dịch vị trí trong thời gian sử dụng.

 Cán bộ dân số tư vấn biện pháp kế hoạch hóa gia đình tại Nghĩa Lộ - Yên Bái.  Ảnh: An Nguyên

Việc xác định thời gian thích hợp để bạn đặt vòng tránh thai cũng rất quan trọng, vì nó sẽ giúp bạn tăng hiệu quả của việc đặt vòng tránh thai, tránh những tác dụng phụ của vòng tránh thai… Thông thường trong vòng từ 3 đến 7 ngày kể từ ngày sạch kinh, đặt vòng tránh thai là tốt nhất, vì trong thời gian này cơ hội có thai rất ít; hơn nữa màng trong tử cung đang là thời kỳ tăng sinh, màng trong tương đối mỏng, sau khi đặt vòng tránh thai, cơ hội gây nên tổn thương và xuất huyết ít, đồng thời đây là thời điểm mà cổ tử cung mềm nên thao tác tương đối dễ dàng.

Tuy nhiên, không phải ai cũng đặt được vòng tránh thai. Các trường hợp: Có thai hoặc nghi ngờ có thai; Sau phá thai nhiễm trùng; Đang bị viêm vùng chậu, bệnh lý lây truyền qua đường tình dục hoặc mắc các bệnh này trong vòng ba tháng trước đây; Viêm cổ tử cung mủ nhầy hoặc một bệnh lý ác tính đường sinh dục, ung thư vú…. hoặc dị tật bẩm sinh ở tử cung hay u xơ làm biến dạng lòng tử cung, lao vùng chậu… đều không áp dụng phương pháp này.

Bác sĩ Nguyễn Văn Tuấn (SK&ĐS)

Lên phía trên
Khắc phục răng ố vàng
Câu hỏi:
Tôi mới xin được việc làm là nhân viên văn phòng. Công việc đòi hỏi tôi phải giao tiếp nhiều nhưng tôi lại thường mất tự tin khi đối thoại với người khác do tôi có hàm răng bị ố vàng. Xin quý báo tư vấn giúp cách khắc phục!
Bùi Hoàng Lan (Ninh Bình)
Trả lời:

Mất tự tin trong giao tiếp do răng ố vàng không phải là hiếm gặp nhưng không phải ai cũng biết nguyên nhân để khắc phục triệt để. Răng ố vàng hay răng bị ngả màu thường do hai nguyên nhân chính gây ra: do nội sinh hoặc ngoại sinh hoặc kết hợp cả hai. Nguyên nhân nội sinh xuất phát từ sâu bên trong cấu trúc răng do nhiễm quá nhiều florua, sử dụng thuốc, tai nạn, tuổi tác và không thể cứu vãn bằng các phương pháp làm sạch răng thông thường.
 
 Ảnh minh họa (nguồn Internet)
Nguyên nhân ngoại sinh là tình trạng xỉn trên bề mặt của răng do thức ăn (như sử dụng đồ uống, thực phẩm có tính axít cao, uống cà phê, trà…), hút thuốc, vệ sinh răng miệng kém nhưng có thể làm sạch bằng các phương pháp làm trắng răng. Để xử lý răng ngả màu do nguyên nhân ngoại sinh khá đơn giản do tình trạng ngả màu chỉ ở trên bề mặt của răng. Người bệnh chỉ cần vệ sinh răng miệng tốt là đã cải thiện được tình hình, có thể dùng các sản phẩm làm sạch răng chuyên dụng thường xuyên. Đối với ố răng nội sinh thì việc “tẩy” trắng răng khó hơn rất nhiều.
 
Trong thư bạn, chúng tôi chưa có đủ thông tin để khẳng định nguyên nhân gây ố vàng răng do nội sinh hay ngoại sinh nên tốt nhất bạn nên đến gặp nha sĩ để tìm ra cách điều trị thích hợp. Tuy nhiên, để giữ răng luôn trắng bóng, bạn cần bỏ thuốc lá (nếu có hút), đánh răng và dùng chỉ tơ nha khoa thường xuyên, súc miệng bằng nước sạch sau khi uống cà phê, trà…, sử dụng ống hút để uống nước hoa quả, thường xuyên đi khám răng định kỳ. 
Lên phía trên
Uống nước đúng cách?
Câu hỏi:
Mỗi ngày cháu uống khoảng 2,5 lít nước, nhưng bạn cháu bảo uống như thế là quá nhiều, và nếu uống nhiều nước quá sẽ có hại cho sức khỏe. Bạn cháu nói đúng hay sai, thưa bác sĩ?
Trả lời:

Trần Mai Thu (Hải Phòng)

Nhu cầu nước của mỗi người không giống nhau, có người uống 1,5 lít nước là đủ, nhưng với lượng đó ở người khác lại là thiếu. Nước có vai trò quan trọng trong sự sống của con người. Khi cơ thể thiếu nước, chức năng của tế bào và các cơ quan sẽ rối loạn. Thận yếu đi, không đảm đương được nhiệm vụ của mình, khiến cơ thể tích lũy nhiều chất độc hại. Những người thường xuyên uống không đủ nước da thường khô, tóc dễ gãy, mệt mỏi, đau đầu, táo bón, hình thành sỏi ở thận và túi mật.
 
 Ảnh minh họa (nguồn Internet)
Nhưng nếu uống quá nhiều nước sẽ nguy hiểm. Trước tiên là gây quá tải cho thận. Kèm theo với việc thải các sản phẩm chuyển hóa, các chất độc hại, cơ thể còn thải các dưỡng chất và nguyên tố vi lượng khi lượng nước đưa vào quá lớn. Những người bị tăng huyết áp uống nhiều nước rất nguy hiểm, vì sẽ làm tăng sự vận chuyển của máu, từ đó tăng áp lực lên thành mạch, dễ dẫn tới các tai biến như đứt mạch máu não, đột quỵ…

Lên phía trên
Uống nhiều nước có lợi cho sức khỏe
Câu hỏi:
Tôi rất ít khi uống nước vì không có cảm giác khát nước. Cả ngày tôi không uống nước cũng không thấy khát. Xin hỏi ít uống nước thì có ảnh hưởng gì đến sức khỏe?
Trả lời:
 

- Đối với cơ thể, nước rất quan trọng. Nước chiếm khoảng 75% trọng lượng cơ thể, nó giữ nhiều vai trò quan trọng trong hoạt động sinh lý và thường xuyên được bài tiết ra ngoài. Trung bình mỗi người cần uống 2 lít nước/ngày để bù vào lượng nước được bài tiết ra khỏi cơ thể (qua nước tiểu, mồ hôi, hơi thở...). Tuy nhiên, nhiều người cho rằng nước có trong cơ thể chỉ đóng vai trò duy nhất là tạo mồ hôi, thải nhiệt và làm mát da khi trời nóng, vì vậy vào mùa đông trời rét, cơ thể không đổ mồ hôi nên không cần uống nước. Đây là quan điểm sai lầm. Nước nhất thiết phải được cung cấp đầy đủ để duy trì khối lượng tuần hoàn của máu, giúp tạo môi trường vận chuyển và chuyển hóa các chất dinh dưỡng, điều hòa thân nhiệt. 

Cơ thể sẽ có nguy cơ bị sỏi niệu, táo bón dẫn đến bệnh trĩ nếu không được cung cấp nước đầy đủ. Vì vậy, để phòng những bệnh liên quan đến thiếu nước, mọi người nên bổ sung nước cho cơ thể thông qua các loại nước uống đa dạng. Ngoài nước lọc, tốt nhất là uống nước sinh tố hoa quả, vừa dễ uống lại bổ sung được cả vitamin C. Vitamin C có vai trò quan trọng trong chức năng miễn dịch, giúp cơ thể tăng sức đề kháng chống nhiễm trùng.

Lên phía trên
Có nên dùng rượu sâm và cao trăn khi còn trẻ?
Câu hỏi:
Cháu 18 tuổi. Xin hỏi ở tuổi cháu có dùng được rượu ngâm sâm Hàn Quốc và cao trăn hay không?
Trả lời:

Chào bạn,

 
Nhân sâm, đặc biệt là loại sâm có nguồn gốc từ Triều Tiên, là một trong những vị thuốc quý của y học cổ truyền có tác dụng đại bổ nguyên khí, bổ tỳ ích phế, sinh tân chỉ khát, an thần ích trí. Cao trăn cũng là một loại thuốc độc đáo của Đông y, được nấu từ xương con trăn, có công dụng khu phong trừ thấp và bồi bổ cơ thể, thường được dùng để chữa các chứng đau nhức xương khớp, đặc biệt là đau cột sống.
 
Trong y học cổ truyền, việc dùng thuốc được chỉ định chặt chẽ, kể cả những thuốc có công dụng bồi bổ. Nguyên tắc chung là: có hư nhược mới bồi bổ, hư gì thì bổ nấy, ví như khí hư thì bổ khí, huyết hư thì bổ huyết... Người khỏe mạnh bình thường thì không nên dùng thuốc bổ, người có bệnh nếu dùng cũng không được lạm dụng.
 
Cháu đang ở độ tuổi “bẻ gãy sừng trâu”, chắn chắn không nên dùng sâm và cao trăn. Nếu sức khỏe có vấn đề thì tốt nhất nên đi khám bệnh và dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa, tuyệt đối không nên dùng thuốc bổ Đông y một cách tùy tiện. Vả lại, sâm là thứ thuốc bổ khí rất mạnh và có tác dụng kích thích phát dục sớm. Ở tuổi cháu, nếu có chỉ định dùng thì cũng cần hết sức thận trọng, nhất là trong những ngày kinh nguyệt.
Admin (Sưu tầm)
Lên phía trên
Lưu ý khi sử dụng thuốc cảm cúm
Câu hỏi:
Thời tiết lạnh tôi rất hay bị cảm cúm nên thường tự mua thuốc về điều trị. Nhưng tôi còn bị huyết áp cao nên dùng nhiều thuốc chữa cảm cúm có nguy hiểm không?
Trả lời:
 


Ảnh minh họa


Cảm cúm là bệnh có thể xảy ra quanh năm, thường xuất hiện nhiều nhất vào lúc giao mùa và mùa đông xuân. Nguyên nhân là bị nhiễm virút gây bệnh đường hô hấp trên (tiếp xúc với người bệnh hoặc có sẵn trong cơ thể) khi sức đề kháng của cơ thể suy yếu. Biểu hiện của bệnh là hắt hơi, sổ mũi, chảy nước mũi, rét, nhức đầu, sốt cao, người mệt mỏi… Thông thường bệnh nhẹ sẽ khỏi sau 4 ngày đến 1 tuần, nhưng nếu nặng do bị biến chứng đường hô hấp như viêm phổi, viêm phế quản... thì có thể kéo dài đến hai tuần.

Thuốc tân dược chữa cảm cúm có thành phần chủ yếu là paracetamol có tác dụng hạ sốt, giảm đau, phối hợp với các dược chất khác như chlorpheniramin maleat (hoặc loratadin, fexofenadin) có tác dụng chống dị ứng. Tuy nhiên, người bị bệnh, nhất là những người đang mắc các bệnh mãn tính như cao huyết áp, tim mạch, đái tháo đường thì cần lưu ý khi tự dùng thuốc điều trị cảm cúm vì có thể gây hại gan, đột qụy. Cụ thể, để tránh hại gan, nếu người bệnh không sốt cao (trên 38oC), không đau nhức thì không dùng paracetamol (acetaminophen) và không dùng một lúc nhiều dạng thuốc để tránh quá liều. Đối với người có bệnh tăng huyết áp, tim mạch nặng, cường giáp, đái tháo đường… để tránh đột qụy, không dùng các biệt dược chứa phenylpropanolamin, pseudoephedrin. Không dùng chlorpheniramin maleat và các biệt dược có chứa chất này cho bệnh nhân đang lên cơn hen, phì đại tuyến tiền liệt, thiên đầu thống, loét dạ dày, trẻ sơ sinh, người mang thai 3 tháng cuối, phụ nữ đang cho con bú… Đặc biệt, tuyệt đối không dùng các loại dầu gió có tinh dầu bạc hà cho trẻ em dưới 6 tuổi, vì tinh dầu bạc hà gây ức chế hô hấp, dẫn đến trẻ bị ngừng tim, ngừng thở.
Theo HNM
Lên phía trên
Ngửi nhiều dầu gió có ảnh hưởng tới sức khoẻ?
Câu hỏi:
Tôi hay bị viêm họng, viêm mũi, thường bôi dầu gió để hít thì đỡ. Nếu ngửi nhiều mùi dầu gió ấy có ảnh hưởng gì đến sức khoẻ không. (Đỗ Thị Nhàn, ở Liên Hương, Đức Thắng, Hiệp Hòa, Bắc Giang)?
Trả lời:

 

Dầu gió là một dạng thuốc bào chế để dùng ngoài, với thành phần chủ yếu là các tinh dầu, thường là tinh dầu bạc hà, có công dụng kháng khuẩn chống viêm, giảm đau, chống xung huyết, giảm phù nề và làm cho tinh thần sảng khoái.
 
Không nên ngửi nhiều dầu gió vì có thể gây rát vùng màng nhầy mũi họng - Ảnh minh hoạ
Không nên ngửi nhiều dầu gió vì có thể gây rát vùng màng nhầy mũi họng - Ảnh minh hoạ
 
Bởi vậy, với các chứng bệnh viêm mũi nói riêng và viêm đường hô hấp trên nói chung, dầu gió có một công dụng trị liệu nhất định. Tuy nhiên, các loại tinh dầu đều có tính kích ứng, cho nên không nên dùng nhiều vì có thể gây rát vùng màng nhầy mũi họng.
 
Hơn nữa, tinh dầu bạc hà có thể gây hiện tượng ức chế tuần hoàn và hô hấp dẫn đến ngừng tim và ngừng thở nhất là đối với trẻ em dưới 2 tuổi.
 
Vả lại, nếu dùng thường xuyên sẽ làm cho cơ thể lâm vào tình trạng "nhờn thuốc", khiến cho công dụng của dầu gió bị giảm sút. Bởi vậy, chỉ nên hít dầu gió khi bị bệnh, khi khỏi thì dừng lại hoặc vận dụng phương thức ngắt quãng. Với trẻ em dưới 2 tuổi, phụ nữ có thai và đang cho con bú thì tuyệt đối không nên sử dụng.
Theo dantri.com

Lên phía trên
Những dấu hiệu cho thấy bé ốm nặng
Câu hỏi:
Làm sao để nhận biết được bé bị ốm nặng?
Trả lời:
Những biểu hiện bên ngoài của cơ thể có thể cho thấy bé đang mắc bệnh.
Là cha mẹ, bạn có thể phán đoán sức khỏe của con mình qua thay đổi hành vi, tâm trạng, hoạt động, bỏ bú… ở bé.
- Lơ mơ và quấy khóc.
- Thay đổi ở làn da và diện mạo.
- Bất thường ở hơi thở.
- Bất thường khi ăn/uống hoặc đi tiêu/đi tiểu.
Lưu ý: Bạn nên đưa bé đi khám ngay nếu bạn thấy lo lắng hoặc khi bé nhà bạn còn quá nhỏ.

Lờ đờ
Khi bé không được khỏe, bé trở nên kém nhanh nhẹn, ngủ nhiều và lờ đờ nhiều hơn. Những dấu hiệu nặng hơn gồm khóc yếu, ít phản ứng với những thứ quanh bé.


Những dấu hiệu cho thấy bé ốm nặng - 1

Làn da của bé nếu xanh xao, tím tái là dấu hiệu cực kì nghiêm trọng cần đưa bé đi khám ngay (Ảnh minh họa)

Hơi thở
Nếu bé thở nhanh, thở thành tiếng hoặc dường như khó thở, bạn nên đưa con tới bác sĩ ngay lập tức. Bé bệnh nặng nếu bạn nhìn thấy môi của bé tím tái hoặc dường như có lúc ngừng thở.

Thay đổi ở làn da và diện mạo
Nếu bé xanh xao, tím tái không bình thường trên da thì là dấu hiệu cực kỳ nghiêm trọng, cần đưa bé đi khám ngay.

Thay đổi trong chế độ ăn uống hoặc tiểu tiện
Nếu bé uống ít hơn một nửa lượng đồ uống thường ngày hoặc không đi tiểu sau mỗi 6 tiếng, bạn nên đưa bé tới bác sĩ kiểm tra, vì bé có thể bị mất nước. Triệu chứng nặng là nôn ra dịch xanh lá cây hoặc lẫn máu, đi tiêu ra máu. Đây là một trong những biểu hiện cần phải lưu tâm về sức khỏe của con.

Sốt
Sốt bản thân nó không có hại. Nhiễm trùng có thể gây sốt thường là do virus nên bé cần nghỉ ngơi, bổ sung chất lỏng. Đôi khi sốt do vi khuẩn thì bé cần điều trị bằng kháng sinh.
Nếu bé dưới 3 tháng tuổi sốt quá 38ºC thì cần đưa bé đi khám ngay vì nguyên nhân sốt ở bé mới sinh thường khó tìm ra; đồng thời triệu chứng bệnh có thể nặng hơn phán đoán của cha mẹ về sức khỏe của con.
 

Lên phía trên
Tôi có thể làm gì để bảo vệ khớp nếu tôi bị viêm khớp?
Câu hỏi:
Tôi có thể làm gì để bảo vệ khớp nếu tôi bị viêm khớp?
Trả lời:
Nếu bạn bị viêm khớp, bạn sẽ có vô số câu hỏi về bệnh và ảnh hưởng của bệnh đến cuộc sống. Dưới đây là một vài câu hỏi thường gặp về viêm khớp.

Hỏi: Tôi vừa phát hiện ra mình bị viêm khớp. Điều này có đồng nghĩa với việc tôi phải từ bỏ các hoạt động thể chất?

 

Trả lời: Bệnh khớp rất khác nhau ở mỗi người. Hãy hỏi bác sĩ để xác định cẩn thận loại và mức độ bệnh khớp của bạn. Sau đó sử dụng thông tin này để đưa ra quyết định tốt nhất cho sở thích và hoạt động của bạn.

Mức độ hoạt động sẽ tùy thuộc vào khớp nào bị ảnh hưởng và mức độ nặng của bệnh. Nếu bạn bị tổn thương khớp, các hoạt động gây căng khớp hoặc đòi hỏi vận động liên tục sẽ làm cho bệnh của bạn trầm trọng hơn.

Tuy nhiên, nếu chỉ bị tổn thương khớp nhẹ và hầu hết các triệu chứng có liên quan đến dây chằng, gân và cơ xung quanh khớp, một chương trình tập luyện nhẹ nhàng có thể cải thiện bệnh khớp. Đảm bảo có các bài tập co giãn và làm chắc cơ trong chương trình tập luyện của bạn.

Hỏi: Tôi có thể làm gì để bảo vệ khớp nếu tôi bị viêm khớp?

Trả lời: Các hoạt động gây áp lực đột ngột lên khớp bị viêm – như chạy bộ hoặc chơi tennis - dễ làm các triệu chứng viêm khớp trầm trọng hơn, tăng sưng và viêm. Tập luyện làm khỏe cơ sẽ bảo vệ khớp, giảm áp lực và tổn thương khớp. Thí dụ, tập chắc các cơ ở trước và sau đùi giúp bảo vệ khớp gối và háng; bạn có thể đi bộ với nhịp độ đi thoải mái và một đôi giầy vừa vặn. Nếu khớp quá đau hoặc tổn thương không cho phép các hoạt động như đi bộ, thì bơi hoặc các bài tập dưới nước khác có thể là lựa chọn tốt hơn giúp bạn năng động và rắn chắc. Bác sĩ có thể hướng dẫn bạn một số bài tập để tăng sức bền cho cơ mà không lạm dụng khớp.

 

Hỏi: Tôi bị viêm khớp và đầu gối tôi tê cứng lại sau khi ngồi lâu. Tôi thấy sẽ ít bị cứng hơn nếu tôi đứng dậy và đi lại xung quanh. Liệu có tốt hơn nếu tôi luôn luôn vận động?

Trả lời: Nhiều người viêm khớp bị tê cứng sau khi ngồi hoặc nghỉ ngơi, đặc biệt nếu họ sử dụng khớp nhiều trước khi ngồi hoặc nghỉ. Hầu hết những người viêm khớp dạng thấp bị tê cứng sau khi nghỉ ngơi, nhất là vào buổi sáng. Vận động sẽ làm giảm bớt một số triệu chứng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bạn nên sử dụng quá mức khớp viêm. Với viêm xương khớp mạn tính, nghỉ ngơi và chăm sóc khớp tốt sẽ làm giảm cứng khớp.

Nếu bạn phải ngồi lâu, thường xuyên điều chỉnh tư thế để tránh hoặc giảm bớt tê cứng. Thí dụ, xoay đầu sang một góc khác, di chuyển vị trí của cánh tay, co và duỗi chân. Các vận động nhẹ này giúp ngăn ngừa cứng khớp quá mức.

Hỏi: Các ngón tay của tôi không thể sử dụng linh hoạt. Có cách nào khắc phục được?

Trả lời: Tập luyện có thể giúp giữ bàn tay và ngón tay linh hoạt trong một phạm vi nào đó, đặc biệt ở giai đoạn sớm của bệnh trước khi các khớp bị tổn thương quá nhiều.

Khi các ngón tay bị co cứng và khớp bị đau, tập luyện tay có thể làm giảm sự khó chịu. Bác sĩ cũng có thể khuyên bạn điều trị lý liệu pháp giúp duy trì sự linh hoạt và sức bền nói chung. Bạn cũng nên cân nhắc việc sử dụng các thiết bị hỗ trợ cho các công việc hàng ngày, như dùng cái mở hộp để đỡ phải xoay tay, móc dây mỏng để giữ khuy và cài vào khuyết áo, hộp đựng quân bài khi chơi bài,…

BACSI.com (Theo Tienphong)

 

Video Clip

Truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 27


Hôm nayHôm nay : 1587

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 23527

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2342435